Thứ hai, tháng tám 09, 2010

Đoàn Giang Lê - So sánh Nho Giáo Việt Nam và Nho Giáo Nhật Bản

<h2>1. Quá trình lịch sử tương cận:</h2>

Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và
Nhật Bản có những nét gần giống nhau. Điều ấy có nhiều
nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là do nhu cầu trong nước và
ảnh hưởng của Trung Quốc:

- Nho giáo được du nhập vào Việt Nam và Nhật Bản đều vào
khoảng những thế kỷ sau công nguyên, trước hết do sự
truyền bá của các học giả nước ngoài. Ở Việt Nam khoảng
TK.III với vai trò của Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp; ở Nhật vào
khoảng TK.V với vai trò của 2 nhóm sử Đông Văn, Tây Văn,
nhất là của học giả Vương Nhân và các "Ngũ kinh bác sĩ"
sau ông.

- Nho giáo phát triển mạnh hơn vào thời kỳ xây dựng quốc gia
độc lập, thống nhất. Trong giai đoạn Sơ kỳ trung đại
(TK.X-XV ở Việt Nam; TK.VIII – XII ở Nhật Bản) Nho giáo cả hai
nước đều nằm trong cấu trúc Tam giáo với vai trò ưu thắng
của Phật giáo. Nho giáo được dùng vào việc tổ chức nhà
nước, xây dựng lòng trung thành đối với quân vương và ý
thức đạo đức cá nhân khác. Sự phổ biến của Nho giáo ở
cả hai nước đều chỉ hạn hẹp xung quanh cơ quan giáo dục cao
nhất là Quốc Tử Giám ở Việt Nam, Đại Học Liêu ở Nhật
Bản và một vài trường tư hay chùa chiền khác. Nho giáo vẫn
chưa tách ra khỏi nhà chùa, người nghiên cứu Nho giáo chủ
yếu là các nhà sư. Sau đó diễn ra quá trình tách rời Nho với
Phật, nói theo cách nói Nhật Bản là "Nho Phật phân ly".

- Chu Tử học đến Việt Nam và Nhật Bản đều vào khoảng
TK.XIII sau khi nhà Nam Tống sụp đổ và nhà Nguyên lên thay.
Người du nhập Chu Tử học vào VN là Chu Văn An, tác giả của
bộ sách giải thích sách "Tứ thư" do Chu Hy biên soạn: Tứ
thư thuyết ước. Người du nhập Chu Tử học vào Nhật Bản là
nhà sư triều Nguyên Nhất Sơn Nhất Ninh, người đã chú giải
sách Chu Tử học ở Nhật Bản.

- Việt Nam và Nhật Bản đều trải qua giai đoạn phát triển
điển hình của chế độ phong kiến mà chúng tôi gọi là Trung
kỳ trung đại. Trong giai đoạn này ở Việt Nam, Chu Tử học
lên địa vị cao nhất: quốc giáo cùng với vai trò quan trọng
của tầng lớp sĩ đại phu xung quanh triều đình. Ở Nhật Bản
ngược lại, Chu Tử học lại chìm xuống, nhường địa vị chi
phối văn hoá tư tưởng cho Phật giáo Thiền tông.

- Giai đoạn hậu kỳ trung đại là giai đoạn suy thoái của
chế độ phong kiến và chứng kiến sự lên ngôi của tầng
lớp thị dân ở các đô thị (ở Việt Nam từ TK.XVIII – giữa
TK.XIX; ở Nhật Bản là thời Edo, từ đầu TK.XVII – giữa
TK.XIX). Trong giai đoạn này ở các hai nước, Chu Tử học ngày
càng trở nên nghiêm khắc hơn để chống lại "dị học",
nhất là học thuật, tôn giáo từ phương Tây đến.

Trên đây là những điểm giống nhau chủ yếu giữa Nho giáo
Việt Nam và Nho giáo Nhật Bản. Tuy nhiên Việt Nam và Nhật Bản
có những điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau nên Nho giáo
ở hai nước cũng có nhiều điểm rất khác. Dưới đây chúng
tôi tập trung trình bày về những điểm khác nhau đó.

<h2>2. "Nho học khoa cử" và "Nho học tự do":</h2>

Nho giáo Việt Nam chủ yếu là <span class="underlined-text">cái học
để đi thi</span>, trong khi đó Nho giáo Nhật Bản nhất là vào
thời Edo là <span class="underlined-text">một ngành học thuật tự
do</span>.

Nho giáo ở Việt Nam được dùng làm kiến thức căn bản để
thi tuyển quan lại. Chế độ khoa cử được thực thi ở Trung
Quốc từ năm 598 vào thời Tuỳ Văn Đế, để thay cho chế độ
tuyển dụng thế tập quý tộc trước đó. Khoa cử được du
nhập vào Triều Tiên năm 958, vào Việt Nam năm 1075. Chế độ
khoa cử từ chỗ rất tích cực: thể hiện tính chất dân chủ
và minh bạch trong việc tuyển dụng nhân tài, nhưng <span
class="underlined-text">dần dần suy thoái đi đến chỗ "hư
học" và bệnh "chuộng bằng cấp"</span>. Vì là kiến thức
thi cử nên học vấn Nho giáo vừa chính thống, lại vừa bị
cắt xén. Sách của nho gia đã ít nếu so với kinh sách Phật
giáo, đến khi đi thi giới hạn bớt, lại còn ít hơn nữa.
Nguyễn Thông đã từng ca thán về tình trạng thí sinh học thi
chỉ học bộ sách toát yếu của Bùi Huy Bích([13]). Lê Quý Đôn
tổng kết rằng người ta chỉ cần học thuộc một ngàn bài
thơ, một trăm bài phú, 50 bài văn sách là có thể đủ kiến
thức để đi thi. Hệ quả là Nho giáo ở Việt Nam càng ngày
càng khô cứng, trí thức thờ ơ với các học phái mới ở
Trung Quốc, họ không du nhập chúng vào Việt Nam vì thấy nó
không cần thiết cho con đường tiến thân. Đáng tiếc nhất là
người Việt lạnh nhạt với tư tưởng Vương Dương Minh, một
loại tư tưởng có tính "thực học", tính đô thị và rất
chú trọng vào kinh tế. Nhà nho muốn trở thành trí thức hữu
ích thì sau khi thi đậu phải tự mình tích luỹ những kiến
thức từ sách "ngoại thư", nhất là những sách thực dụng.
Người trí thức Việt bấy giờ có thể yên tâm với kiến
thức của mình trong khuôn khổ một quốc gia chuyên chế phương
Đông, nhưng lại hoàn toàn không đủ khi phải đối đầu với
đội quân "Dương di" từ phương Tây lại. Cho đến trước
khi người phương Tây hiện diện bằng đại bác ở cửa biển
Đà Nẵng thì những trí thức Việt Nam có kiến thức mới cũng
chỉ được vài người, trong số đó tiêu biểu nhất là Lê
Quý Đôn. Ở ông chúng ta thấy ảnh hưởng khá rõ của Khảo
chứng học đời Thanh, sách khoa học phương Tây của các "Tây
nho" (như cách gọi của người Nhật). Trong Vân đài loại
ngữ và một vài sách khác ông cũng nói đến thuyết trái đất
hình cầu, kinh tuyến vĩ tuyến… Tuy nhiên một con người như
Lê Quý Đôn có vẻ cô độc trong thời đại ông, tri thức mà
ông có được chỉ là hiểu biết đơn lẻ của một cá nhân,
ông không có học trò để đi tiếp con đường của mình, kể
cả người học trò danh giá nhất là Bùi Huy Bích (Bùi Huy Bích
sau này lại đi làm sách "luyện thi"). Ông không có nhiều
bạn bè để chia sẻ, không tạo được học phong của cả một
thời đại, cho nên hơn nửa thế kỷ sau ông, khi người Việt
phải đối đầu với phương Tây thì giới trí thức từ thân
sĩ làng quê đến trí thức khoa bảng cung đình đều ngơ ngác
không biết ứng phó cách nào…

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Triều đình rất chú
trọng học tập văn hóa Trung Hoa: thường xuyên cử các đoàn
Khiển Đường sứ sang Trường An. Trong khoảng gần 200 năm từ
thời Nara đến đầu thời Heian - khi tạm bãi bỏ Khiển
Đường sứ (năm 894) - có đến 18 đoàn được cử sang chính
thức. Mặc dù vượt biển Nhật Bản trong điều kiện lúc bấy
giờ là cực kỳ gian nan nguy hiểm, nhưng số người tham gia lưu
học ở Trung Quốc vẫn rất đông, có đoàn trên 550 người.<img
class="quoright" src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor">» Có mấy người Việt Nam sang Trung Quốc lấy
kinh như thế?</div></div>
Tình hình Nho giáo ở Nhật Bản lại khác. Chu Tử học phái
của Hayashi Razan dẫu là chính thống (quan nho phái), nhưng nó
chỉ là một trong nhiều học phái Nho giáo khác nhau ở giai
đoạn này: Dương Minh học phái với Nakae Tôju/ Trung Giang Đằng
Thụ, Kumazawa Banzan/ Hùng Trạch Phiên Sơn; Cổ học phái với
Itô Jinsai/ Y Đằng Nhân Trai, Yamaga Sokô/ Sơn Lộc Tố Hành; Công
lợi chủ nghĩa phái với Ogyù Sorai/ Địch Sinh Tồ Lai… <span
class="underlined-text">Các học phái này về phương diện tư
tưởng nhiều khi đấu tranh, phê phán nhau kịch liệt, nhưng
nhờ nhờ vậy mà học thuật và xã hội mới tiến bộ.</span>
Nho giáo Nhật Bản có thể nói theo rất sát, gần như cập
nhật thường xuyên tình hình Nho giáo Trung Quốc. Người Nhật
không áp dụng chế độ khoa cử, họ sử dụng chế độ thế
tập: quý tộc cung đình, lãnh chúa địa phương, võ sĩ truyền
đời… Chủ trương "Cấm thay đổi thành phần" thời Mạc
phủ Tokugawa / Đức Xuyên là sự thể hiện chặt chẽ nhất
của tinh thần ấy. Ở các phiên khác nhau người ta có thể
lựa chọn trí thức để phục vụ cho mình từ nhiều nguồn
học vấn khác nhau: có phiên sử dụng trí thức Chu Tử học,
có phiên lại dùng phái Cổ học hay Dương Minh học… Chính
quyền trung ương không tham dự vào công việc này. Nhờ thế mà
trí thức Nhật Bản không bị "đóng khuôn" kiến thức.

<h2>3. Thân sĩ – nông dân và Võ sĩ – thương nhân</h2>

Thời trung đại, ở Việt Nam nhân vật trí thức đóng vai trò
chính yếu là nhà nho - các thân sĩ ở làng quê, còn ở Nhật
Bản là võ sĩ ở các phiên (lãnh địa) và đô thị.

Trần Đình Hượu phân các nhà nho Việt Nam ra thành ba loại:
nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Ông cho
rằng: hai loại đầu là nhà nho chính thống, đồng thời về
cơ bản cũng là nhân vật của nông thôn: xuất thân từ làng
quê, đi học đi thi, thi đậu thì làm quan, không làm quan nữa
thì lại về quê ẩn dật. Loại nhà nho thứ ba – "nhà nho
tài tử" là sản phẩm của nền văn hoá đô thị phong kiến,
nhưng người tài tử chỉ thiên về văn chương nghệ thuật,
dùng sáng tác để thể hiện cái "nhân sinh tại thế bất
xứng ý" của mình. Từ khoảng TK.XVI trở đi, trong xã hội
Việt Nam bắt đầu đã xuất hiện nền kinh tế thị trường,
càng về sau càng phát triển mạnh. Thái độ chung của nhà nho
chính thống Việt Nam là phản đối rất mạnh mẽ nền kinh tế
ấy với biểu hiện của nó là đồng tiền, họ đối lập nó
với đạo đức Nho giáo: "<em>Đời nay nhân nghĩa tựa vàng
mười / Có của thì hơn hết mọi lời</em>" hay "<em>Đồng
tiền hai chữ son khuyên ngược / Nhân nghĩa đôi đường nước
chảy xuôi</em>". Ít ai trong số họ trở thành thương nhân hay
đưa đạo đức nho giáo vào kinh doanh để biến nho giáo trở
thành đạo đức đô thị. Xu hướng đô thị hoá Nho giáo ở
Việt Nam cũng có thể thấy ít nhiều trong một số nhà nho
TK.XVIII-XIX, nhất là nhóm nhà nho Nam Bộ (Gia Định tam gia, hay
hình tượng "Ông Quán" (Lục Vân Tiên) – một loại nhà nho
ẩn dật, thay vì làm ngư tiều canh mục thì lại kinh doanh ăn
uống…), nhưng cũng không trở thành một xu hướng mạnh làm
thay đổi cơ cấu nhà nho truyền thống hay nền tảng kinh tế
xã hội sinh ra nhà nho ấy.

Kẻ sĩ Nhật Bản là võ sĩ. Tầng lớp võ sĩ lúc đầu cũng
xuất thân từ nông dân, nhưng dần dần tách ra khỏi tầng lớp
này trở thành quân nhân chuyên nghiệp. Đến Hậu kỳ trung
đại, trước việc Mạc phủ khuyến khích phát triển Tống Nho,
thì người võ sĩ chịu ảnh hưởng Nho giáo, nhất là Chu Tử
học rất sâu sắc. Do võ sĩ cấm không được thờ hai chủ,
nên nhiều người trong số họ sau khi chủ chết đã trở thành
"rônin" (lãng nhân – võ sĩ thất nghiệp), lên các đô thị
sinh sống, rồi trở thành trí thức đô thị hay thương nhân.
Nho giáo Nhật Bản có tính chất đô thị là vì thế. Cho nên ta
sẽ không lấy làm lạ khi thấy ở Nhật Bản, tư tưởng Vương
Dương Minh được tiếp thu một cách rất rộng rãi; Hà Lan học
cùng với các học giả của nó – "Tây nho" có ảnh hưởng
sâu sắc trong xã hội; phái Công lợi chủ yếu lo chuyện kinh
doanh; còn I.Baigan cùng với các học trò của ông lại đưa
đạo đức Nho giáo vào kinh doanh để tạo ra đạo đức của
người thị dân (Đinh nhân đạo) v.v.

Điểm khác nhau nữa về học vấn, tính cách của võ sĩ Nhật
Bản và nho sĩ Việt Nam đó là: Với võ sĩ, thì võ (kiếm
thuật, bắn cung, nhu đạo...) là sở trường của họ; Nho giáo
chỉ là chuyện đạo đức để củng cố lòng trung thành; ngoài
nho học ra họ tìm đến tôn giáo chủ yếu là Thiền tông. Với
nhà nho Việt Nam thì kinh sách thánh hiền mới là sở trường
của họ; võ cũng có nhưng võ là một ngạch riêng và lại
không được trọng bằng văn; ngoài Nho học ra, nhà nho tìm
đến sự giải thoát tinh thần chủ yếu là ở tư tưởng Lão
Trang chứ không phải ở Phật giáo. Điều ấy cho thấy sự
khác biệt trong thơ văn của nhà nho Việt Nam và các thiền sư,
võ sĩ, thị dân Nhật Bản thời trung đại. Điều ấy cũng cho
thấy nhà nho Việt Nam "vu khoát", kém tính thực tiễn, kém
mạnh mẽ hơn võ sĩ Nhật Bản. Cho nên sự trói buộc tinh thần
với quá khứ của trí thức Việt Nam nặng nề hơn so với trí
thức Nhật Bản khi bước vào thời cận đại.

Vấn đề cuối cùng là là tại sao võ sĩ Nhật Bản lại thành
công trong công cuộc đối đầu với phương Tây, còn nho sĩ
Việt Nam lại thất bại? Về lòng yêu nước và tinh thần dũng
cảm thì các nho sĩ Việt Nam cũng không hề thua kém, dẫu chỉ
là một chút so với các võ sĩ Nhật Bản. Sự khác biệt về
tư tưởng Nho giáo nêu trên góp một phần không nhỏ cho sự
thành bại của hai bên. Tuy nhiên nguyên nhân của sự khác nhau
đó phải tìm vào cơ sở kinh tế xã hội Việt Nam thời Lê,
Nguyễn và Nhật Bản vào thời Edo.

Cho đến khi đối đầu với phương Tây vào giữa TK.XIX Việt
Nam thực sự ổn định chỉ khoảng hơn 50 năm (từ 1802 –
1858), trong khi đó Nhật Bản thời Tokugawa ổn định hơn 250 năm
(từ 1604 – 1868), vì vậy, nền kinh tế Nhật Bản đã tích lũy
được nhiều yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa. Theo thống kê,
thành Edo giữa TK.XIX đã có đến một triệu dân, ngang với dân
số Luân Đôn bấy giờ, cho thấy mức độ tập trung đô thị
ở Nhật Bản rất cao. Các thành phố Osaka, Nagoya... đã có các
công ty cổ phần, những công ty tài chính sơ khai. Kỹ nghệ
dệt của Nhật cũng đạt đến trình độ cơ khí hóa cao. Các
thuyền buôn cũng đã có một truyền thống hàng hải quốc tế
lâu đời... Vì vậy, nước Nhật Bản cận đại hóa dễ dàng
hơn rất nhiều so với nước Việt Nam chủ yếu là sống bằng
nông nghiệp tự cấp tự túc.

Morishima Michio trong cuốn Tại sao Nhật Bản thành công? Công
nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản([14]), cho rằng ở
Nhật Bản công cuộc cận đại hóa thành công, xây dựng
được chủ nghĩa tư bản Nho giáo là do võ sĩ chứ không phải
do thương nhân như ở phương Tây (với mô hình chủ nghĩa tư
bản Tin lành), từ đó cho rằng chủ nghĩa Marx đã không đúng
trong trường hợp Nhật Bản. Chúng tôi cho rằng: quả thực
người tiến hành cận đại hóa Nhật Bản là võ sĩ, nhưng võ
sĩ Nhật Bản thành công được là do cơ sở kinh tế xã hội
Nhật Bản đã có bước phát triển tương đối cao so với các
nước phương Đông khác. Đó là yếu tố quan trọng nhất,
quyết định nhất dẫn đến sự thành công của Nhật Bản,
bên cạnh một số yếu tố khác nữa. Điều này chứng minh
học thuyết về cơ sở kinh tế xã hội của Karl Marx vẫn đúng
đắn ngay cả trong trường hợp Nhật Bản.

<h2>4. "Nghĩa" và "Trung" – từ khóa về Nho giáo Việt Nam
và Nhật Bản:</h2>

Nho giáo các nước về cơ bản là giống nhau, đều giáo dục
Tam cương, Ngũ thường, con đường tu, tề, trị, bình cho con
người. Tuy nhiên nếu đi vào chi tiết, thì do hoàn cảnh lịch
sử và truyền thống văn hoá dân tộc, Nho giáo vào mỗi nước
đều khúc xạ khác đi ít nhiều hoặc được nhấn mạnh ở
mặt này mặt kia. Vì thế nếu bắt buộc phải chọn một từ
làm "từ khoá" để thấy sự khác nhau của Nho giáo mỗi
nước thì người ta sẽ chọn từ nào? Giáo sư Tsuboi Yoshiharu
trong Hội nghị Quốc tế về Nho giáo tổi chức ở Yokohama
(Nhật Bản) năm 1992, cho rằng: Ở Trung Quốc đó là Hiếu, ở
Triều Tiên – Hàn Quốc là Lễ hoặc Thuần, ở Nhật Bản là
Trung, còn Việt Nam là Nghĩa([15]). Quan niệm này có lẽ cũng đã
được các học giả phương Tây nói đến ít nhiều, nhưng
được GS. Tsuboi trình bày một cách có ấn tượng trước một
đối tượng chọn lọc: các học giả Nho giáo quốc tế, nên
rất gây chú ý. Lúc đầu quan niệm ấy gây "shock" đối
với nhiều người, nhưng càng đi sâu vào xem xét các dữ kiện
lịch sử, văn hoá mỗi nước, người ta càng thấy nhận định
ấy không phải là không có lý.

Ở Việt Nam "Nghĩa" là Nghĩa với nước, là tình nghĩa ở
đời, và nghĩa hiệp với những người bị oan khuất, ức
hiếp. Chỉ cần nhắc lại vài vài ví dụ là có thể thấy
được ngay. Ví dụ như Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi đã theo lời
khuyên của cha: hãy trở về rửa nhục cho nước, trả thù cho
cha, như thế mới là Đại hiếu. Đối với đạo đức Trung
Quốc, một nền đạo đức xây dựng trên cơ sở gia đình thì
hiếu là lớn nhất. Câu nói của vua Thuấn được người TQ
ngàn đời ca ngợi vì đã giải quyết được mâu thuẫn giữa
Hiếu và sự công chính của người cầm quyền. Khi vua Thuấn
mới ban hành pháp lệnh, yêu cầu xử tội rất nặng những kẻ
nào vi phạm pháp luật – không chừa bất kỳ ai, thì có
người cắc cớ hỏi rằng: Nếu cha của nhà vua phạm tội thì
sao? Vua Thuấn trả lời: Ta sẽ bỏ ngôi, cõng cha đi trốn.
Hiếu đối với người Trung Quốc bao gồm cả ước mong phúc
lộc thọ, con cháu nối dòng đông đúc, giàu có và trường
thọ. Và như thế Hiếu là lớn nhất. Ở Việt Nam còn có một
thứ hiếu khác lớn hơn, gọi là "Đại hiếu" – đó là
hiếu với đất nước. Trong sự lựa chọn của Nguyễn Trãi
cũng thấy rất rõ những tiêu chuẩn đạo đức Việt. Nguyễn
Trãi đã không chọn nhà Hồ - chủ cũ, như yêu cầu của đạo
đức Trung thành của nho sĩ nói chung, nhất là võ sĩ Nhật
Bản; không chọn nhà Trần – họ ngoại, như chữ Hiếu của
Trung Quốc; Nguyễn Trãi chọn lê Lợi, vì bằng nhãn quang sáng
suốt của mình, ông hiểu rằng chỉ có Lê Lợi mới giải
quyết được vấn đề của đất nước. Các nhà nho Cần
vương TK.XIX cũng là tấm gương của đạo đức "Vì nghĩa"
– nghĩa đối với đất nước. Họ không nghe theo lời Hoàng
đế Tự Đức giải giáp đầu hàng hàng giặc (Trương Định
và các văn thân Nghệ An), họ không theo Đồng Khánh là đương
kim hoàng đế, họ chiến đấu một cách anh dũng và chết một
cách bình thản không phải vì vua mà vì nước, và vua Hàm Nghi
chỉ là một biểu tượng phù hợp với lý tưởng kháng chiến
của họ. Quan niệm sống Vì nghĩa đối với nước có cơ sở
từ lịch sử lâu dài chống ngoại xâm để bảo vệ chủ
quyền đất nước của người Việt. Mặc dù người Việt hay
nói "trung với nước", nhưng Trung với ý nghĩa chặt chẽ
nhất của nó chỉ là trung quân mà thôi. Tình nghĩa (cái nghĩa
có được từ tình cảm, nghĩa vì tình) là linh hồn của đồi
sống tình cảm của người Việt, là nội dung trữ tình chủ
yếu, đặc trưng của thơ ca Việt (bên cạnh cái khảng khái
kích ngang, phong cốt là đặc trưng của thơ TQ; cái bi ai nhẹ
nhàng kín đáo của thơ Nhật Bản)([16]). Cơ sở xã hội của
lối sống tình nghĩa là đời sống của cư dân nông nghiệp
gắn bó với làng quê. Nghĩa hiệp là lý tưởng sống hàng
đầu của con người Việt Nam, nhất là ở những vùng đất
mới cư dân còn thưa thớt, luật pháp còn lỏng lẻo – như
vùng đất Nam Bộ chẳng hạn. Phương châm hành xử cao nhất
của họ là "Thấy câu kiến ngãi bất vi, làm người như thế
cũng phi anh hùng" (Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu) dẫu câu
này có nguồn gốc Trung Quốc.

Ở Nhật Bản, chữ Trung lại là đức mục được đề cao
nhất. Trong đạo đức của người samurai bao giờ lòng trung
thành với chủ cũng được đề lên hàng đầu – ngưòi Nhật
gọi nó là "Trung thành tâm" (chùseishin), và quan hệ bề tôi
với chủ ấy gọi là "Quan hệ chủ tòng" (shujù kankei). Lòng
trung thành ấy là trung thành với chủ chứ không phải là trung
quân nói chung. Nhiều nhà xã hội học đã chỉ ra cấu trúc xã
hội Nhật Bản ưu tiên quan hệ hàng dọc và đơn tuyến, dựa
trên lòng trung thành với người chủ trực tiếp của mình: vũ
sĩ – lãnh chúa đại danh – tướng quân – thiên hoàng.
Người Nhật ai cũng biết đến câu chuyện về 47 võ sĩ trong
sự kiện Akô thời Nguyên Lộc (Nguyên Lộc Xích Tuệ/ Akô sự
kiện - 1748). Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã
sống theo lý tưởng: báo thù cho chủ là nguyên tắc đạo đức
cao nhất. Lòng Trung còn cao hơn cả Hiếu (Ôshi thấy đám tang
mẹ mà vẫn gạt nước mắt ra đi không về chịu tang), hơn cả
Tình vợ chồng (Ôishi đuổi vợ đi để che mắt kẻ thù), hơn
cả Liêm sỉ (bị võ sĩ đối phương nhổ vào mặt mà vẫn
chấp nhận để ẩn mình kín đáo hơn). Một võ sĩ khác - Hara,
đồng đội của anh ta cũng coi Trung hơn cả Tình gia đình (chia
tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ). Bà mẹ
của anh ta cư xử như một liệt nữ Nhật Bản: bà cụ thắt
cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện nghĩa vụ cao cả
nhất của người con trai. Câu chuyện ấy được ghi trong Trung
thần tàng (Chùshingura), được diễn trên sân khấu Tĩnh lưu ly,
được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say mê.

Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội hàng dọc, quan hệ
đơn tuyến là điều vẫn còn tiếp tục được phát huy trong
xã hội Nhật Bản hiện đại. Sở dĩ lòng trung thành được
đưa lên hàng đầu vì trong lịch sử Nhật Bản liên tục bị
cuốn vào các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các
lãnh chúa, nạn "Hạ khắc thượng" (bề tôi giết chủ) hết
sức trầm trọng, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác. Quyền
lực quốc gia nằm trong tay Mạc phủ, danh phận không rõ ràng,
nên việc trung thành với người chủ trực tiếp là điều cốt
tử để cho xã hội tồn tại và vận hành được.

Như trên đã trình bày, đã đến lúc nghiên cứu về Nho giáo
Việt Nam không thể tách ra khỏi bối cảnh Nho giáo khu vực
Đông Á. Quá trình vận động của Nho giáo từng nước đều
bị chị chi phối không chỉ những điều kiện lịch sử cụ
thể của mỗi quốc gia mà còn chịu sự tác động, ảnh
hưởng của những xu thế có tính khu vực. Thậm chí đánh giá
về những đóng góp của từng nhà nho cũng không thể không
đặt họ trong bối cảnh khu vực.

Hơn 1500 năm Nho giáo truyền vào Việt Nam và Nhật Bản, tuỳ
theo hoàn cảnh mà có lúc thăng lúc trầm, nhưng càng về cuối
thời trung đại, dấu ấn của nó càng trở nên sâu sắc trong
văn hoá, tư tưởng mỗi dân tộc. Nho giáo đã tạo ra giai tầng
đặc biệt - "Sĩ", làm trụ cột cho đời sống tinh thần
của mỗi quốc gia. Do điều kiện địa lý và lịch sử riêng,
mà Nho giáo Việt Nam và Nhật Bản có nhiều điểm khác biệt,
tạo ra sắc thái riêng, truyền thống riêng của Nho giáo mỗi
nước. Trong các nước "Khu vực văn hoá chữ Hán", Nhật
Bản là nước đã tích luỹ được nền tảng kinh tế tiến
bộ hơn cả, nhờ thế đã tác động làm thay đổi nhận thức
của tầng lớp trí thức nho học, khiến cho họ có thể thích
ứng nhanh chóng với thời cuộc, và thực hiện được thành
công công cuộc duy tân, cận đại hoá đất nước.

<em>Theo Đoàn Lê Giang</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6012), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét