Chủ nhật, tháng bảy 15, 2012

Người Việt & ý thức công dân ý thức xã hội (phần I)

<h2>Bảo thủ, dựa dẫm, cầu an</h2>

Trải qua các đời dân ta chịu sự cai trị của vua quan,
không có thể dùng tâm và mưu cho nước, nước tự nó sống
còn. Trên có vua hiền tướng giỏi thì tạm thời yên ổn. Bất
hạnh mà không có vua hiền tướng giỏi thì cả nước loạn ly,
nhân dân lầm than.

Từ xưa đến nay, sở dĩ có ít ngày được bình trị (1),
mà có lắm cuộc loạn ly, nguyên nhân là ở đó.

Dân nước ta có ưu điểm là an phận, thành thực, nhẫn
nại.

Không biết lợi dụng những ưu điểm ấy thì sẽ sinh ra
ba cái tệ.

Một là bảo thủ mà không biết tiến thủ.

Hai là dựa vào người mà không biết tự lập.

Ba là yên thân mình nhà mình, mà không biết ái quần ái
quốc.

Không trừ ba cái tệ đó thì dù có vua hiền tướng giỏi
cũng chỉ bình trị nhất thời mà thôi, sao có thể chống
chọi với các nước lớn được. Ngày nay phải nghĩ đến tự
cường thì ngày sau mới tự cường được.

(1) xã tắc trong cảnh thái bình, có trên có dưới, trật tự
kỷ cương đâu vào đấy

<div class="rightalign"><em>Quốc dân
độc bản
Tài liệu do Đông Kinh Nghĩa thục soạn, 1907</em></div>


<h2>Tri túc và hiếu cổ</h2>

Dân ta đại để bảo thủ mà không biết tiến thủ. Sở
dĩ bảo thủ một là do tri túc (1), hai là do hiếu cổ (2).
Thường thường cho rằng quê mùa chất phác là hay, lặng lẽ
rút lui là cao thượng, không biết rằng như vậy là chỉ muốn
ăn chơi lười biếng. Đó là tri túc làm trở ngại cho chí
tiến thủ. Không biết rằng thế đạo (3) ngày một suy, mà
lại than thở phong tục xưa không được phục hồi. Lòng hiếu
cổ ấy trở ngại cho chí tiến thủ.

(1) tự cho là đủ

(2) ưa thích những gì đã có từ xưa.

(3)đạo sống ở đời

<div class="rightalign"><em>Quốc dân độc bản, 1907</em></div>

<h2> Cái gì cũng đổ tại trời</h2>

Thuyết mệnh trời làm cho dân ta bị trở ngại. Nước yếu
không quy trách nhiệm cho chính sự tồi tệ, quốc dân bất tài
mà lại nói vận số không phải do người quyết định. Lụt
lội hạn hán không trách cứ là không có kế hoạch tiêu nước
kịp thời, không phòng ngừa đói kém, mà lại nói thiên tai
không phải do người gây nên. Dịch bệnh lan tràn thì nói con
người sống chết có số, đề phòng cũng vô ích. Cùng làm
một nghề, kẻ thành người bại, cũng lại nói họ gặp may, ta
gặp rủi. Than ôi! sao lại có cách nói tự hại mình đến
thế?

<div class="rightalign"><em> Quốc dân độc bản, 1907</em></div>

<h2>Ma quỷ sống lẫn với người hèn yếu</h2>

Nước Nam độ bốn mươi năm nay, vận nước ngày một suy,
suốt từ trên đến dưới chỉ biết chuyện lười biếng vui
chơi.

Pháp chế lề luật không còn có cái gì ra trò, nhân tài
cũng tiêu diệt đi mất cả.

Người trên thì lâu lâu được thăng trật (1), chẳng qua
như sống lâu lên lão làng; người dưới thì đem của mua quan,
thật là tiền bạc phá lề luật (...)

Suốt cả thành thị cho đến hương thôn, đứa gian giảo
thì như ma như quỷ, lừa gạt bóc lột, cái gì mà chẳng dám
làm; đứa hèn yếu thì như lợn như bò, giẫm cổ dè đầu,
cũng không dám ho he một tiếng.

(1) trật: cấp bậc phẩm hàm

<div class="rightalign"><em> Phan Châu Trinh
Thư gửi chính phủ Pháp, 1906</em></div>



<h2>Ý thức quốc gia thức tỉnh quá chậm </h2>

Khi cái tư tưởng quốc gia đã nảy ra trong óc người Tàu,
người Cao Ly (1), người nước ta vẫn còn say sưa trong giấc
ngủ ngàn năm, chưa có chút gì gọi là giật mình mở mắt cả.
Bọn già thì lo làm quan để kiếm tiền nuôi vợ con, bọn trẻ
thì lo làm thầy đặng kiếm gạo nuôi miệng, ngoài cái lo xác
thịt ra thì không có một tư tưởng gì khác.

Lại thêm một bọn ra vênh mặt múa tay tự xưng là ái
quốc ái chủng, nhưng hỏi đến họ cách khuếch lợi trừ
hại, tự cường tự lập thì họ ập ạ như người mơ ngủ,
chỉ ngồi ngong ngóng ước mơ thế lực ngoài tràn vào mà thôi.

(1) tức Triều Tiên.

<div class="rightalign"><em>Phan Châu Trinh
Đạo đức và luân
lý Đông Tây, 1925 </em></div>

<h2>Khi bàn chuyện quốc gia chỉ ham hư danh</h2>

Tục ngữ có câu Cọp chết để da, người chết để
tiếng. Xem câu nói đó thời danh vẫn nên quý.

Nhưng tội tình thay! óc ti ti như óc dơi, mắt ti ti như mắt
muỗi, ngoài buồng the bếp núc, vẫn không biết gì là nước
non; trừ sọ bò đầu heo, vẫn không biết gì là rồng rắn.

Huống chi vết xấu ở gia đình, thói hủ ở xã hội,
gắn sâu buộc chặt trải mấy nghìn năm; đoàn thanh niên cho
đến phường tân tiến (1), đua tranh danh giá, chẳng cu-li
thượng đẳng thời nô lệ quá ưu; miệng chưa ráo sữa đã
lóc lẻm những thẻ bạc bài ngà, ức (2) chưa rời nôi mà ao
ước những mề đay kim khánh.

Ôi! Thế là vinh danh hay sao? Quý hoá hay sao?

(1) đoàn thanh niên đây chỉ thế hệ trẻ, còn phường tân
tiến trong xã hội Việt nam đầu thế kỷ XX là lớp người đi
theo xu thế Âu hoá.

(2) ngực

<div class="rightalign"><em> Phan Bội Châu
Việt Nam quốc sử khảo, 1908</em></div>

<h2>Làm ra vẻ yêu nước để mưu lợi riêng</h2>

Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của người
nước ta mà ở trong lại có một chứng đặc biệt là chứng
ái quốc giả…

Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào là kỷ niệm
anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, nam
hát bắc hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có
mấy phần người biết quyền nước đã mất thì tính mạng
không còn, hồn nước có về thì giang sơn mới sống.

Nếu những tấm lòng ái quốc đó mà thật thà chắc chắn
thì giống Tiên Rồng chẳng hạnh phúc lắm sao?

Nhưng tội tình thay, khốn khổ thay,

người ưu thời mẫn thế chẳng bao nhiêu mà người rao danh
thì đầy đường đầy ngõ;

giọt nước mắt khóc nước vẫn ngày đêm chan chứa mà
xem cho kỹ thì rặt nước mắt gừng;

tiếng chuông trống kêu hồn vẫn trong ngoài gióng giả mà
nghe cho tới nơi thì rặt là chuông trò trống hội;

ngoài miệng thì ái quốc mà trong bụng vẫn là kim khánh
mề đay;

trước mặt người thì ái quốc mà đến lúc đêm khuya
thanh vắng thì tính toán những chuyện chó săn chim mồi.

Cha ôi! trời ôi! ái quốc gì? ái quốc thế ư? Đeo mặt
nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua
chuốc lấy tiếng chí sĩ chân nhân, một mặt thì ôm chặt lấy
lốt ông tham bà đốc.

<div class="rightalign"><em> Phan Bội Châu
Cao đẳng quốc dân, 1928</em></div>

<h2>Lo việc nước theo lối tự tư tự lợi </h2>

Nước mất là do rất nhiều điều tệ, tội nhiều không
kể hết, nhưng trong đó có bốn cái tội lớn. Một là ngoại
giao hẹp hòi; hai là nội trị hủ bại; ba là dân trí bế tắc;
bốn là vua tôi trên dưới tự tư tự lợi.

Vua tôi tự tư tự lợi nên không biết có dân có nước;
dân cũng tự tư tự lợi nên cũng không nghĩ gì đến nước
đến vua. Ngoại giao nội trị dân trí sở dĩ đồi bại như
vậy cũng là do trên dưới đều tự tư tự lợi mà ra cả.
Cuối cùng nước bị mất vua bị tù, thần dân đều trở nên
giống người mất nước đê tiện. Cái nọc độc tự tư tự
lợi nguy hại biết là dường nào.

<div class="rightalign"><em>Phan Bội Châu
Việt Nam quốc sử khảo, 1908</em></div>

<h2> Tư tưởng gia nô </h2>

Xem lịch sử nước ta từ xưa đến nay hơn ba nghìn năm,
chỉ có gia nô mà không có quốc dân. Quyền vua có nặng, nặng
không biết chừng nào; gia dĩ (1) quyền quan lại hứng đỡ
quyền vua mà từng từng áp chế.

Từ cửu phẩm kể lên cho đến nhất phẩm, chồng càng
cao, ép càng nặng, đến dân là vô phẩm, thân giá (2) lại còn
gì.

Thằng này là con ngựa thằng nọ là con trâu, buộc
cương vào thì cắm cổ cứ đi, gác ách vào thì cúi đầu cứ
lủi.

Gặp Đinh thì làm nô với Đinh, gặp Trần thì làm nô với
Trần, gặp Lê Lý thì làm nô với Lê Lý.

Phận con hầu thằng ở, được đôi miếng cơm thừa canh
thải, đã lấy làm hớn hở vênh vang;

tối năm (3) đứng đầu ruộng mới được bát cơm ăn,
suốt đêm ngồi bên bàn khung cửi mới được tấm áo mặc, mà
mở miệng ra thì "cơm vua áo chúa ";

đồng điền này, sông núi nọ mồ hôi lẫn nước mắt
cày cấy mở mang, nhưng mà "chân đạp đất vua", lại giữ
chặt một hoạt kê vô lý (4).

Cái tư tưởng gia nô! Cái trí thức gia nô! Bệnh gia
truyền làm nô đó không biết tự bao giờ để lại, bắt ta
phải gông đầu khoá miệng, xiềng tay xiềng chân, chịu gánh
gia nô cho già đời mãn kiếp.

(1) thêm vào đó

(2) giá trị con người

(3) quanh năm

(4) ý nói : Tự mình làm ra mà lại bảo là do ơn người khác,
thật là câu chuyện buồn cười

<div class="rightalign"><em>Phan Bội Châu
Cao đẳng quốc dân, 1928</em></div>


<h2>Kém óc hợp quần</h2>

Đem so sánh nước ta với các nước khác như nước Tàu
nước Nhật, xưa chẳng hơn ta là mấy, mà sao nay ta kém người
ta xa thế?

Người ta mười mình chưa được một: tư tưởng, văn
chương, học thuật, công nghệ, thương nghiệp… đều kém hết
cả.

Thế thì tại cớ làm sao?

Dám quả quyết rằng chỉ tại người mình ít biết kính
trọng mấy chữ " xã hội đồng bào" không coi mấy chữ
đó làm quan hệ đến sự sinh tồn tiến hoá, nên trong xã hội
không có tình tương thân tương ái, không có đoàn thể hợp
quần.

Có xã hội mà vẫn lẻ loi, ai biết phận nấy, khôn sống
mống chết.

<div class="rightalign"><em>Nguyễn Bân
Tình hữu ái quan hệ cho xã hội như thế nào? Hữu thanh,
1921</em></div>

<h2>Một vài thói tục đã thành di truyền</h2>

Một là học để làm quan: Người sinh ra ở đời có học mới
khôn, có khôn mới làm hết được bổn phận làm người. Làm
quan chẳng qua là một việc trong sự làm người đó mà thôi.
Thế mà người mình có cái tính di truyền "đi học cốt để
làm quan ", cha truyền con nối, trước bày nay làm, dầu cho
ngày nay phép học phép thi đổi ra cách mới, mà người đi học
vẫn ôm cái hy vọng làm quan là chủ chốt.

Hai là làm quan ăn lót: Làm quan... cốt là mượn cái địa vị
thế lực mà làm cái lợi riêng, thói ăn của dân cho là cái
quyền lợi tự nhiên mình được hưởng, tập dữ tính thành
(1) không ai cho là điều quái lạ hổ thẹn.

Ba là a dua người quyền quý: Ngu dốt mà cũng tán rằng thông
minh, bạo ngược mà cũng tán rằng nhân đức... bất cứ việc
gì người ra thế nào, đã là quyền quý thì cứ nhắm mắt tán
dương.

Bốn là trọng xác thịt (2): Ngoài sự ăn sung mặc sướng, ở
yên ra gần như không có tư tưởng gì nữa. Đối với kẻ khác
cũng lấy cái mục đích đó mà xem xét. Nghĩa là không hỏi
nhân cách thế nào, mà chỉ thấy ăn mặc xa hoa, lầu cao nhà
lớn thì sinh lòng hâm mộ, dầu có hại nòi nát giống, mà
đạt được mục đích thì cũng không từ.

Những điều như thế kể ra không xiết. Lại thêm cái văn
minh xu xác (3) thế lực kim tiền, noi theo mà thối giục (4) lên
nữa, thôi thì lửa nọ được dầu, sóng kia thuận gió, không
những quét sạch bao nhiêu tính di truyền tốt của ông bà ngày
trước, mà còn có thể cuốn cả hai mươi triệu đồng bào ta
xoay vào cái rốn biển trầm luân, không sao ngóc đầu lên
được.

(1) làm quen mãi rồi thành ra một thuộc tính tự nhiên

(2) tức là trọng vật chất

(3) xu xác: chưa rõ. Có lẽ là gần nghĩa với xu phụ, tức
chạy theo nịnh bợ

(4) thối giục: cũng như hối thúc

<div class="rightalign"><em> Huỳnh Thúc Kháng
Tiếng dân, 1929</em></div>

<h2>Sợ tự do, cam chịu làm nô lệ</h2>

Đế vương xưa chỉ dạy thờ người trên và biết nghĩa
vụ của mình còn quyền lợi không cần biết đến mà cũng
không có nữa.

Tục ngôi thứ đã in rất sâu vào óc người dân quê,
đến nỗi những tư tưởng tự do phóng khoáng từ phương Tây
truyền sang, đến luỹ tre xanh là dừng lại, biến mất như
một ngọn gió mát tan vào một bầu không khí nồng nực nặng
nề.

Tục vị thứ hoá ra tục sùng bái nhân tước (1) một cách
u ám đê hèn và thay vào óc kính thượng (2) là một óc nô lệ
đáng khinh.

Tự do cá nhân và hết thảy các tự do ở bên ta và nhất
là ở nơi thôn quê chỉ là một câu chuyện hoang đường.

Cũng vì thiếu tự do --- nếu ta không kể sự tự do phục
tùng và tự do uống rượu – nên tình cảnh dân quê về
phương diện tinh thần mới có vẻ điêu linh tàn tạ. Cũng vì
thiếu tự do nên người ta đối với những công cuộc cải
cách mới lạ thường có cái não ngờ vực.

Sức phản động dìm dập dân quê vào nơi ngu tối, tạo
thành cho họ cái tính nô lệ, cái căn tính chịu đựng trước
những sự tàn ngược ức hiếp.

(1) những tước vị do con người đặt ra

(2) Kính trọng người trên

<div class="rightalign"><em> Hoàng Đạo
Bùn lầy nước đọng, 1939</em></div>

<h2>Chưa trưởng thành trên phương diện công dân</h2>

Nước ta theo đạo thánh hiền, dân khai hoá cũng đã lâu
nhưng ví với các nước văn minh thì trí khôn còn thiếu, tư
cách chưa toàn, chưa hiểu nghĩa vụ riêng là thế nào, chưa
biết trách nhiệm chung ra sao. Nộp thuế là của tiêu chung mà
còn có người dân ẩn lậu; đi lính là giữ cho mình mà còn có
người trốn tránh; đê điều cấm phòng thân lừa ưa nặng
không đánh không đi; lại có những kẻ nay trộm mai cướp
không để cho dân yên nghiệp.

<div class="rightalign"><em>Phạm Quang Sán
Nước ta đã dùng được phép luật văn minh chưa?
Đông dương tạp chí, 1914</em></div>

<h2>Các hội nghề nghiệp yếu ớt ọp ẹp</h2>

Tục ta nghề nào lập hội ấy, một là để giữ gìn công
việc cho nhau, hai là để liên lạc tình nghĩa với nhau, ba là
để binh vực nhau cứu giúp nhau, vậy là cái chủ ý cũng hay,
mà lại có thể sinh lợi để làm được sự công ích nữa.

Tiếc thay dân trí ta hẹp hòi, chỉ biết có tiền thì lo
ngay đến một mảnh danh giá cúng về dân, để lấy cái tên
ghi ở trong các đồ sự thần, cho ai nấy trông thấy đồ thờ
thì lại nhớ đến tên mình, thế cho là vinh hạnh rồi. Giả
sử hội nào cũng gây lấy một cái vốn to rồi cùng nhau mà
mở một nghề buôn bán hoặc công xưởng gì cho có ích lợi
thì chẳng hay lắm ru ?

<div class="rightalign"><em>Phan Kế Bính
Việt Nam phong tục, 1915</em></div>

<h2>Sinh hoạt hội đoàn dễ bị làm hỏng</h2>

Toàn cả nhân dân trong nước thiếu hẳn cái công đức
(1)... Chỉ biết tư đức (2) mà không biết công đức, nên trừ
một số ít người tốt có công tâm, phần đông toàn vì tư
tình mưu tư lợi, thích tư đấu, cứu tư hiềm (3), từ làng
đến nước đâu đâu cũng biểu hiện lối ganh tham ghét chạ
gây ra giành xé chia rẽ như hương thôn kiện tụng, quan trường
khuynh loát nhau... mà thiếu hẳn về đoàn thể sinh hoạt công
cộng.

Từ Âu hoá truyền sang, thấy xứ văn minh có những đoàn
thể lập hội, công tác thành hiệu (4) rõ ràng, cũng cố bắt
chước theo lập hội này hội khác. Song cái bản ngã đã thiếu
môn học công dân, nên bất kỳ hội gì, chương trình quy tắc
lúc lập định ra không nghĩ đến sự thực hành, thường xảy
ra những chuyện do điều nhỏ và ý riêng mà làm hư cả đoàn
thể.

(1) công đức đây không phải công ơn đối với xã hội, mà
là đạo đức một công dân trong quan hệ với cả xã hội

(2) đạo đức trong quan hệ cá nhân (ngược với công đức)

(3) thích tư đấu: dò xét những chuyện ganh ghét riêng tư;
cứu tư hiềm: nghiền ngẫm tính toán quanh những mối hiềm
khích giữa người nọ người kia

(4) thành tựu, hiệu quả

<div class="rightalign"><em> Huỳnh Thúc Kháng
Tiếng dân, 1940</em></div>

<h2>Theo sự chi phối của quan niệm hư vô</h2>

Có chí mà không làm nổi, đó là vì tài lực không đủ
thật không đáng trách. Nhưng trong chúng ta, đáng trách là hạng
người sau: Sống ở đời, không có mục đích gì cao hết.

Họ không có một cuộc đời lý tưởng. Họ không coi một
thứ gì là đáng ham chuộng, ngoài sự làm tôi đồng tiền mặc
dầu phải quăng bỏ liêm sỉ bán rẻ nhân cách.

Ngoài ra lại còn một hạng cho ai cũng là người vô vị,
việc gì cũng là việc không đáng làm, ngất ngưởng qua ngày,
hững hờ đoạn tháng, để đồng tiền huyết hãn (1) của cha
mẹ vợ con vào vòng trời hoa đất rượu, phung phí tuổi giàu
sức khoẻ vào những cuộc đỏ đen suốt sáng, mây khói thâu
canh. Họ cốt sống để tìm những thoả mãn về vật dục …

(1) huyết: máu, hãn: mồ hôi; ngày nay hay nói: mồ hôi nước
mắt

<div class="rightalign"><em> Hoa Bằng
Hư sinh, Tri tân, 1943</em></div>

<em>Trích từ chuyên mục Người xưa cảnh tỉnh đã in trên Thể
thao và văn hóa 2005-2007. Các đầu đề nhỏ và chú thích là
của người biên soạn</em>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13398), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét